Blog Trang 8

Ca sĩ – nhạc sĩ Vũ Cát Tường trở thành kỹ sư Kỹ Thuật Y Sinh

(TNO) Sáng nay 12.11, Trường ĐH Quốc tế (ĐH Quốc gia TP.HCM) đã trao bằng tốt nghiệp cho 626 kỹ sư, cử nhân khóa 2011-2015. Trong số trên 21% sinh viên tốt nghiệp loại giỏi trở lên, có ca sĩ, nhạc sĩ trẻ Vũ Cát Tường.
PGS-TS Hồ Thanh Phong, Hiệu trưởng Trường ĐH Quốc tế (phải) trao bằng cho Vũ Cát Tường sáng 12.11 - Ảnh: Hà Ánh
PGS-TS Hồ Thanh Phong, Hiệu trưởng Trường ĐH Quốc tế (phải) trao bằng cho Vũ Cát Tường sáng 12.11 – Ảnh: Hà Ánh
Chia sẻ về quãng thời gian 4 năm học đã qua, tân kỹ sư cho biết 2 năm đầu tiên hoàn toàn chủ động được việc học. Đến năm thứ 3 khi đoạt Á quân The voice 2013, mọi việc bắt đầu khó khăn hơn khi vừa học, vừa phải đối mặt với lịch diễn kín mít.
“Phải thú thật là có nhiều lúc mình gần như muốn buông bỏ. Điều này xảy tới không không phải bởi mình ngại áp lực, điều mình sợ nhất là bị mất phương hướng. Nhưng chính thầy của mình đã là người tiếp lửa, động viên. Câu nói của thầy về hình ảnh “một kỹ sư đi hát” đã giúp mình có được tư duy mới và hứng thú để tiếp tục cả hai con đường mình đang đi”, Vũ Cát Tường chia sẻ.
Vũ Cát Tường bên cạnh người thân - Ảnh: Hà Ánh
Vũ Cát Tường bên cạnh người thân – Ảnh: Hà Ánh
Cầm trên tay tấm bằng kỹ sư ngành Kỹ thuật y sinh, Vũ Cát Tường cho biết thời gian trước mắt cô sẽ tập trung vào con đường nghệ thuật, cụ thể là chuẩn bị cho ra mắt một sản phẩm ca nhạc mới.
Bên cạnh vai trò ca sĩ, Vũ Cát Tường còn được biết đến với vai trò nhạc sĩ có nhiều ca khúc nổi tiếng như: Vết mưa, Yêu xa, Đông, Chỉ là giấc mơ, Hôn…
Vũ Cát Tường trình diễn trong buổi lễ trao bằng
Vũ Cát Tường trình diễn trong buổi lễ trao bằng

Hà Ánh (nguồn: Báo Thanh niên)

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN HỢP TÁC VIỆT NAM – HOA KỲ TRONG CÔNG NGHỆ Y SINH 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN HỢP TÁC VIỆT NAM – HOA KỲ TRONG CÔNG NGHỆ Y SINH 

Bài này đã được đăng trong Tạp Chí Hoạt Động Khoa Học của bộ Khoa Học và Công Nghệ số 8.2004 (543) Năm thứ 46 trang 49-51

 

****************

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN

HỢP TÁC VIỆT NAM – HOA KỲ TRONG CÔNG NGHỆ Y SINH

VÕ VĂN TỚI (*)

Dưới sự bảo trợ của Quỹ Khoa học quốc gia (Hoa Kỳ), vừa qua một phái đoàn các chuyên gia, nhà khoa học của Hoa Kỳ đã đến thăm và làm việc tại một số trường đại học, viện nghiên cứu về công nghệ Y Sinh tại Việt Nam. Thông qua việc thẩm định những nhu cầu căn bản của ngành công nghệ Y Sinh tại Việt Nam, phái đoàn đã đưa ra một số kiến nghị về các biện pháp thiết yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành này đồng thời đẩy mạnh sự hợp tác giữa cộng đồng khoa học của 2 nước. Tạp chí  Hoạt động Khoa học xin trân trọng giới thiệu bài viết của GS Võ Văn Tới – Trường đại học Tufts – Trưởng phái đoàn phía Hoa Kỳ ).

Công nghệ Y Sinh là một bộ môn đa ngành, nó nối liền các ngành khoa học tự nhiên và y tế với nhiều ngành khác như kỹ thuật, lý hóa và tóan học. Lĩnh vực này ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến để phát triển các phương pháp nghiên cứu và chế tạo trang thiết bị nhằm phục vụ an sinh cho con người và cũng để tìm hiểu các quá trình sinh học của con người. Nó bao gồm các nghiên cứu về thiết bị y tế, thiết bị cảm quan sinh học, tin học y tế, cơ khí sinh học, kỹ thuật phục hồi, quang học y tế, kỹ thuật bệnh viện và công nghệ sinh học…, do vậy đòi hỏi sự hiểu biết chuyên sâu trong nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng.

Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã quan tâm nhiều hơn đến công nghệ Y Sinh. Mặc dù chưa có những công nghệ tiên tiến và tri thức ứng dụng (know how) rộng rãi, nhưng Việt Nam đã có những nhà nghiên cứu có trình độ chuyên môn cao. Họ luôn chú tâm đến những kỹ thuật mới có thể cung cấp cho họ cơ hội và sự phát triển có hệ thống trong lĩnh vực này. Truyền thống, môi trường và điều kiện của đất nước đã tạo ra rất nhiều cơ hội đặc thù cho việc nghiên cứu. Nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực này, Chính phủ và các nhà quản lý giáo dục đại học của Việt Nam đang nỗ lực phát triển công nghệ Y Sinh bằng cách tích cực tìm kiếm sự ủng hộ và hợp tác quốc tế.

Ở Hoa Kỳ, trong những năm vừa qua, công nghệ Y Sinh đã phát triển vô cùng nhanh chóng và dự kiến còn phát triển mạnh mẽ hơn. Sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu và giáo dục với Việt Nam sẽ mang lại lợi ích chung cho các nhà nghiên cứu và giáo dục của cả hai nước. Việt Nam là một đất nước năng động, sẵn sàng kết hợp các kỹ thuật khác nhau cho khoa học Y Sinh và sẵn sàng đón nhận các hệ thống giáo dục quốc tế. Do chiến tranh kéo dài, ở Việt Nam còn nhiều vấn đề chưa được khám phá. Đó là một cơ hội có thể tạo ra những chủ đề nghiên cứu độc nhất vô nhị cho các nhà nghiên cứu và giáo dục Hoa Kỳ. Mặt khác, sự giúp đỡ từ phía Hoa Kỳ có thể tạo nên nhiều thay đổi lớn cho sự phát triển của công nghệ Y Sinh ở Việt Nam thông qua việc giúp khám phá những chủ đề nghiên cứu quan trọng, đào tạo các nhà khoa học trẻ có khả năng… Tháng 1.2004, một phái đoàn các nhà khoa học và chuyên gia về Y Sinh học của Hoa Kỳ đã sang thăm một số viện nghiên cứu, trường đại học có giảng dạy về công nghệ Y Sinh của Việt Nam để thẩm định những nhu cầu căn bản về công nghệ Y Sinh của Việt Nam, qua đó đề nghị những biện pháp thiết yếu nhằm thức đẩy sự phát triển của lĩnh vực này, đồng thời đẩy mạnh sự hợp tác giữa các cộng đồng khoa học Hoa Kỳ và Việt Nam trong tương lai. Dưới đây là những đề nghị của phái đoàn về một số biện pháp cần được thực hiện trong thời gian tới để thúc đẩy sự phát triển của những hoạt động kỹ thuật Y Sinh tại Việt Nam.

Tổ chức một hội nghị chuyên ngành quốc tế về công nghệ Y Sinh

Mục đích của hội nghị này là tạo cơ hội cho các nhà giáo dục, nghiên cứu, quản lý và hoạch định chính sách của Việt Nam học tập các kinh nghiệm cũng như các mô hình hàn lâm của Hoa Kỳ. Từ đó sẽ thành lập một tổ chức để tìm kiếm các giải pháp khả thi cho Việt Nam. Quỹ Khoa học quốc gia Hoa Kỳ, Viện quốc gia Y học Hoa Kỳ, Quỹ học bổng Việt Nam (VEF), các hiệp hội nghề nghiệp có liên quan đến công nghệ Y Sinh (như IEEE, AMBS và AIMBE) là những đơn vị có khả năng tài trợ cho hội nghị. Nếu thành công thì hội nghị này sẽ đặt tiền đề cho việc tổ chức các hội nghị thường niên.

Tham gia tích cực vào cộng đồng quốc tế

Việt Nam cần xây dựng một cơ chế đặc biệt để chuẩn bị đội ngũ học viên tương lai, những người mong muốn được du học ở nước ngoài để nâng cao trình độ về công nghệ Y Sinh. Cơ chế này bao gồm khâu chuẩn bị ngọai ngữ, tìm hiểu văn hóa và quy trình tuyển chọn. Để được du học ở Hoa Kỳ thì điều kiện đầu tiên là trình độ Anh ngữ phải đạt được số điểm quy định của Test of English as a Foreign Language (TOEFL) do mỗi trường ấn định. Ngoài ra, đa số các trường có chất lượng đòi hỏi thêm về Grade Point Average cao (GPA) và Graduate Record Exam (GRE). Việt Nam va Hoa Ky cần đưa ra những quy định chính thức để đảm bảo rằng những học viên này sẽ quay trở về làm việc sau khi học xong chương trình tiến sỹ ở Hoa Kỳ. Việc phối hợp giữa Chính phủ Việt Nam, Đại sứ quán Hoa Kỳ và Quỹ học bổng Việt Nam (VEF) là rất cần thiết cho sự thành công của công việc này. Để dễ dàng thiết lập được mối quan hệ cộng tác với các trường đại học hoặc các viện nghiên cứu Hoa Kỳ, Việt Nam nên cố gắng tìm những người Mỹ gốc Việt đang làm việc và có ảnh hưởng tại viện, trường đại học để làm người đại diện, hướng dẫn, hỗ trợ học viên Việt Nam.

Trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ Y Sinh, việc tiếp cận với những thông tin mới là một đòi hỏi tối cần thiết. Do vậy, Việt Nam nên tập trung nỗ lực vào việc mở rộng các cơ sở dữ liệu sẵn có về công nghệ Y Sinh học, giúp cho các nhà khoa học, các kỹ sư và sinh viên Việt Nam có thể tham khảo tài liệu một cách dễ dàng. Hàng năm, mỗi trường đại học cần dành một khoản ngân sách để mua sách, cẩm nang và tạp chí về công nghệ Y Sinh cho thư viện. Sự đóng góp của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, cũng như các thư viện khoa học, thư viện điện tử mới được thành lập ở các trường đại học rất quan trọng cho công cuộc phát triển này. Việc sử dụng Internet ở Viện Nam hiện nay có phần hạn chế, cần khắc phục để khai thác có hiệu quả loại phương tiện thông tin hiện đại này.

Ưu tiên lĩnh vực trang thiết bị y tế đồng thời đảm bảo, nâng cao chất lượng nhân sự, sản phẩm và dịch vụ.

Trong giai đọan đầu, Việt Nam nên đào tạo gấp một đội ngũ chuyên viên về trang thiết bị y tế. Những chuyên viên này phải biết tận dụng các khả năng của các trang thiết bị hiện đang lưu hành trong các bệnh viện để có thể hướng dẫn những người làm công tác điều trị và nghiên cứu sử dụng, bảo trì đúng mức những trang thiết bị này. Thêm vào đó, họ cũng phải có trách nhiệm đào tạo những cán bộ cấp dưới, có năng lực chưa cao, để giúp đội ngũ này tiến bộ. Những nhà quản lý y tế nên có một chính sách bắt buộc các công ty buôn bán trang thiết bị mở các lớp đào tạo miễn phí các chuyên viên này. Các nhà quản lý cũng nên khuyến khích các trường đại học mở những chuyên ngành về trang thiết bị bệnh viện, cung cấp cho sinh viên những kiến thức về những nguyên lý căn bản của những trang thiết bị thuộc ngành này, thay vì chỉ học giới hạn về trang thiết bị của một công ty. Điều này sẽ giúp họ cập nhật hóa, biết lựa chọn những trang thiết bị đúng tiêu chuẩn mà không bị giới hạn bởi một nhãn hiệu hay một công ty nào. Họ cũng sẽ biết cách sáng chế những trang thiết bị mới hiện chưa có trên thị trường. Sau khi hoàn tất khóa học, sinh viên có thể làm việc trong các bệnh viện hoặc trở thành những kỹ sư, nhà giáo dục hay nhà nghiên cứu.

Trong tương lai, để tận dụng những khoản kinh phí lớn đã đầu tư vào các phòng thí nghiệm công nghệ sinh học, Việt Nam cần tiến hành các công trình nghiên cứu mũi nhọn và nghiên cứu ứng dụng nhằm sáng chế và sản xuất những sản phẩm có khả năng kinh tế thuộc lĩnh vực tạo chất liệu làm các bộ phận nhân tạo của cơ thể (regenerative medicine), bộ gen và protein. Bên cạnh đó, Việt Nam cần khuyến khích các phòng thí nghiệm có trang thiết bị hiện đại của các ngành như cơ khí, điện, điện tử… tập trung vào họat động công nghệ Y Sinh.

Các nhà lãnh đạo nhất thiết phải xác định được tầm quan trọng của công tác nghiên cứu trong bức tranh toàn diện. Các chương trình nghiên cứu nên gắn kết với việc phát triển giáo dục và đào tạo ở mọi tầng lớp. Nên xác định những đề tài hữu ích, độc đáo hay những đề tài mà Việt Nam có thể chiếm vị thế quan trọng khi cộng tác với các viện nghiên cứu Hoa Kỳ. Ví dụ như việc đánh giá những quy trình cơ bản của một phương pháp dựa theo kinh nghiệm ở Việt Nam, đánh giá các phương pháp y học và dược liệu cổ truyền. Một biện pháp khả thi nữa là tạo điều kiện để các nghiên cứu viên Việt Nam tham gia vào các dự án nghiên cứu đang được thực hiện tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, có thể tổ chức các cuộc hội thảo, tham quan trao đổi, sử dụng các quỹ học bổng và nghiên cứu (như Quỹ học bổng Full bright và VEF). Muốn thực hiện công tác này một cách hiệu quả thì việc thiết lập các cơ sở dữ liệu về các chương trình nghiên cứu, việc tham dự của sinh viên, giảng viên vào các chương trình nghiên cứu và việc tận dụng các nguồn lực sẵn có là rất cần thiết.

Huấn luyện giảng viên

Với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực, Việt Nam cần cử những người có kinh nghiệm về công nghệ Y Sinh, hoặc có học vị cao trong các ngành khác, đi tập huấn ngắn hạn tại Hoa Kỳ về công nghệ Y Sinh học (khoảng 3 đến 12 tháng).

Trong kế hoạch vừa và dài hạn, Việt Nam nên gửi sang Hoa Kỳ các nhà giáo dục có năng lực và năng động. Họ sẽ cùng làm việc với nhau trong các nhóm khoảng năm đến mười người được đào tạo để trở thành một thế hệ các nhà giáo mới cho ngành kỹ thuật Y Sinh. Tức là, họ sẽ trở thành những chuyên gia không những am tường về chuyên môn của mình, mà còn hiểu rõ tầm quan trọng của mối ràng buộc chặt chẽ giữa ba lĩnh vực: Giáo dục, nghiên cứu và sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ của họ là đào tạo những thế hệ sinh viên mới có cùng nhận thức và  hoài bão như họ. Trong thời gian học tập tại Hoa Kỳ, họ sẽ được huấn luyện vào cùng một thời điểm, làm việc cùng nhau trong một phân khoa riêng. “Phân khoa ảo” này sẽ được “nuôi nấng” tại một viện nghiên cứu ở Hoa Kỳ cho đến khi trưởng thành và sẽ quay về Việt Nam với tri thức mới cùng với trang thiết bị đã quen sử dụng ở Hoa Kỳ. Mô hình này không những tạo nên những nhân viên có năng lực, thành thục các trang thiết bị khoa học mà còn giúp họ làm quen với một cơ sở hạ tầng vững chắc, để khi trở về Việt Nam họ sẽ tiếp tục hoạt động hữu hiệu. Cách này cũng giúp cho Việt Nam tránh khỏi tình trạng chảy máu chất xám. Chính những người này sẽ trở thành hạt nhân tiếp tục phát huy hiệu quả và phát triển đội ngũ cán bộ thông qua việc đào tạo ra những thế hệ kỹ sư trẻ.

Song song với việc đào tạo đó, Việt Nam cần duy trì các chương trình trao đổi sinh viên và giảng viên với các trường đại học của Hoa Kỳ để thúc đẩy sự phát triển các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực này. Việt Nam cũng cần khuyến khích sinh viên theo học bậc đại học ở các trường đại học Hoa Kỳ về công nghệ Y Sinh học.

Phát triển mối liên kết chặt chẽ giữa trường đại học – bệnh viện – công nghiệp

Các hoạt động trong lĩnh vực công nghệ Y Sinh dù ở trường học, bệnh viện hay công nghiệp có tiến bộ hay không đều phụ thuộc chủ yếu vào sự cộng tác của cả ba đơn vị này. Mỗi đơn vị có thể lần lượt giữ vị trí chủ đạo trong sự cộng tác này. Chẳng hạn, i) Bệnh viện giữ vị trí chủ đạo bằng cách đưa ra những nhu cầu cần thiết, trường đại học sẽ dựa vào đó để thiết lập những đề tài nghiên cứu để đưa ra giải pháp, công nghiệp hỗ trợ việc nghiên cứu và sau đó áp dụng vào sản xuất, đưa ra thị trường sản phẩm của những kết quả nghiên cứu đó; ii) Trường đại học sẽ giữ vị trí chủ đạo bằng cách đưa ra các ý tưởng mới, bệnh viện cung cấp môi trường thử nghiệm và công nghiệp sẽ thương mại hóa những sản phẩm mới; iii) Công nghiệp sẽ giữ vị trí chủ đạo bằng cách đưa ra dự kiến các nhu cầu của họ, bệnh viện đưa ra giải pháp và trường đại học thực hiện. Việc xây dựng các chương trình giáo dục và đào tạo trong trường đại học phải phản ánh được những phản hồi từ phía các bệnh viện và công nghiệp. Các trường đại học nên thành lập một ban tư vấn bao gồm các thành viên của các bệnh viện và công nghiệp để thường xuyên cập nhật chương trình giáo dục và đào tạo của mình. Sự liên kết giữa công nghiệp và các trường đại học có thể cụ thể hóa bằng cách công nghiệp sẽ cung cấp trang thiết bị mà họ đang kinh doanh để làm công cụ dạy học trong các trường và thiết lập các chương trình thực tập cho sinh viên.

Nói một cách tổng quát, sinh viên theo học chương trình công nghệ Y Sinh cần được cung cấp một cơ hội làm việc thực tế trong một công ty sản xuất trang thiết bị, hay một bệnh viện, hoặc tham gia các hoạt động khác có liên quan đến ngành học ít nhất trong một mùa hè. Những kinh nghiệm thực tế sẽ góp phần nâng cao sự hiểu biết về các nhu cầu và đòi hỏi của việc thiết kế các dụng cụ y tế, cũng như hiểu rõ những nhu cầu thực tiễn khác và sự liên hệ giữa lý thuyết và thực hành. Ngoài ra cũng nên thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa các trường (chẳng hạn Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Nha khoa, Duoc Khoa hoặc Y khoa). Chương trình đào tạo của trường này phải bao gồm cả những khía cạnh của trường kia để thúc đẩy sự hợp tác giữa sinh viên của các trường.

Nâng cao chất lượng các chương trình đào tạo đại học và thiết lập các chương trình đào tạo cao học, tiến sỹ và đào tạo tiếp tục

Chương trình đào tạo đại học phải luôn cập nhật sao cho sinh viên sau khi tốt nghiệp đáp ứng được các yêu cầu của nhà tuyển dụng từ các công ty và các bệnh viện. Các chương trình học bổng sau tiến sỹ kéo dài từ 1 đến 2 năm cũng là một cơ chế rất thuận lợi cho công tác tập huấn và đào tạo. Đây sẽ là một cơ chế hiệu quả nhất để tạo lập nền tảng khoa học cho các lĩnh vực cụ thể của ngành công nghệ Y Sinh ở Việt Nam.

Phát triển các đặc thù của quốc gia và khu vực

Việt Nam cần phát triển ngành công nghệ Y Sinh trong môi trường văn hóa của mình. Bên cạnh những nỗ lực xuất bản các tài liệu và báo cáo khoa học bằng tiếng Anh trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế, Việt Nam nên thành lập các ủy ban để sọan thảo một bộ từ điển tiếng Việt về công nghệ Y Sinh và in ấn các tài liệu phổ thông thường thức cho đại chúng về công nghệ Y Sinh bằng tiếng Việt, tương tự như những việc đã được thực hiện trong lĩnh vực trang thiết bị y tế.

Những hợp tác cụ thể ban đầu

Dựa trên những nhận định thu thập được từ chuyến khảo sát tại Việt Nam, chúng tôi nhận thấy tiềm năng lớn cho việc thiết lập các mối trao đổi hợp tác rất có giá trị giữa các trường đại học Hoa Kỳ và ba trường đại học ở Việt Nam: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Cần Thơ. Để thiết lập một chương trình chính thức cho việc hợp tác trong phạm vi đào tạo và nghiên cứu công nghệ Y Sinh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, Trường đại học Tufts nen duoc de nghi  giữ vai trò liên lạc viên với các cơ sở liên quan để triển khai các nỗ lực hợp tác này và sẽ phối hợp làm việc để hướng đến một chương trình chi tiết và các kế họach cụ thể thực hiện thành công chương trình này. Trường đại học Tufts nên ký kết với ba trường đại học trên của Việt Nam một bản ghi nhớ chính thức nhằm phác thảo một đề cương tổng quát cho các mối tương tác trong tương lai và chuẩn bị cho việc hợp tác lâu dài.

_______________

 

Giáo sư Khoa Y Sinh học – Đại học Tufts – Hoa Kỳ

 

 

PHỎNG VẤN GS VÕ VĂN TỚI VỀ CÁC MÔ HÌNH DOANH NGHIỆP KH&CN 

PHỎNG VẤN GS VÕ VĂN TỚI VỀ CÁC MÔ HÌNH DOANH NGHIỆP KH&CN 

PHỎNG VẤN GS VÕ VĂN TỚI VỀ CÁC MÔ HÌNH

DOANH NGHIỆP KH&CN

GS Võ Văn Tới, một trí thức Việt kiều, hiện đang làm việc tại Trường Đại học Tufts – Hoa Kỳ và là thành viên của Quỹ hỗ trợ giáo dục Việt Nam (do Chính phủ Hoa Kỳ thành lập). Ông là người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết cho việc hợp tác, giúp đỡ các nhà khoa học Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là công nghệ y sinh học. Vừa qua, nhân dịp ông về nước làm việc (chuẩn bị cho Hội thảo quốc tế đầu tiền về công nghệ y sinh học sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 7.2005), Tạp chí Hoạt động Khoa học đã có cuộc gặp gỡ và phỏng vấn ông về kinh nghiệm phát triển các doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) tại Hoa Kỳ và một số suy nghĩ của ông trong việc phát triển loại hình doanh nghiệp mới này ở Việt Nam.

Tạp chí HĐKH: Thưa ông, ở Hoa Kỳ có những cách thức nào nhằm thương mại hoá các sản phẩm nghiên cứu của các nhà khoa học?

GS Võ Văn Tới: Ở Hoa Kỳ có nhiều cách, ở đây tôi chỉ xin dẫn cứ ra 2 cách thức chính để đưa các sản phẩm nghiên cứu ra thị trường dưới dạng các sản phẩm hàng hóa:

Cách thứ nhất, do Chính phủ tài trợ, theo 2 chương trình sau:

–  SBIR (Small Business Innovation Research): Đòi hỏi người chủ trì dự án phải trực thuộc một công ty nhỏ, và người đó phải có thời gian làm việc cho dự án cũng như trong công ty đó ít nhất là 51%  trong khoảng thời gian được tài trợ (quá bán). Bản chất của chương trình này nhằm giúp các nhà khoa học là chủ doanh nghiệp có thể đổi mới công nghệ.

–  STTR (Small Business Technology Transfer): Đòi hỏi người chủ trì dự án phải có liên hệ với một công ty nhỏ, người đó có quyền tiếp tục công việc của mình trong trường đại học hoặc trong cơ quan nghiên cứu trong khi làm dự án và thời gian làm việc cho dự án phải ít nhất là 30%. Bản chất của chương trình này là hỗ trợ chuyển giao công nghệ từ các tổ chức nghiên cứu cho các doanh nghiệp nhỏ.

Vì SBIR và STTR là các chương trình do Chính phủ tài trợ, do vậy, có nhiều bộ, ngành của Chính phủ như Bộ Công nghiệp, Bộ Công nghệ, Bộ Quốc phòng, Quỹ Nghiên cứu Khoa học Quốc gia, Quỹ Nghiên cứu Y tế… đều có chương trình riêng cho họ. Hàng năm, họ đều trích ra một số tiền trong ngân sách nghiên cứu và phát triển của họ để tài trợ cho chương trình đó. Lấy một thí dụ cụ thể là: Trong năm tài chính 2005, Bộ Năng lượng đã trích ra 2,5% (tương đương với 100 triệu USD) số tiền trong ngân sách nghiên cứu và phát triển của Bộ cho chương trình SBIR và 0,3% (tương đương với 12 triệu USD) cho chương trình STTR. Mục đích của những chương trình này là để khuyến khích những người làm nghiên cứu biến ý tưởng (sản phẩm tinh thần) thành những sản phẩm (kết quả nghiên cứu), sản xuất và thương mại hoá các sản phẩm này.

Thông thường, các chương trình này có 3 giai đoạn:

–   Giai đoạn 1: Khoảng 6 tháng (cho chương trình SBIR) hoặc một năm (cho chương trình STTR). Chính phủ tài trợ một khoản kinh phí ban đầu khoảng 100.000 USD. Mục đích của giai đoạn này là giúp cho những nhà nghiên cứu tìm hiểu, thử nghiệm, xem xét những ý tưởng, mô hình nghiên cứu của mình xem có thể thực hiện được không.

–   Giai đoạn 2: Sau giai đoạn 1, nếu có kết quả cụ thể, dự án sẽ tiếp tục được tài trợ khoảng 750.000 USD (cho SBIR) hoặc 500.000 USD (cho STTR) để người chủ trì dự án thực hiện chương trình nghiên cứu trong khoảng 2 năm để tạo ra các sản phẩm.

–   Giai đoạn 3: Chính phủ không trợ giúp về kinh phí nữa mà sẽ giúp đỡ những công ty đó liên hệ với các công ty tư nhân hoặc các nhà doanh nghiệp nhằm phát triển nguồn vốn và những công nghệ, kỹ thuật đó.

Cách thứ hai, không phụ thuộc vào Chính phủ mà thông qua những nhà doanh nghiệp giàu có (venture capitalist – đầu tư mạo hiểm). Những danh gia này sẽ tự tìm hiểu những sản phẩm gì sẽ mang lại cho họ nhiều lợi nhuận nhất trong tương lai để đầu tư vào những nghiên cứu, sản xuất ra những sản phẩm đó thông qua các công ty. Với sự đầu tư này, họ sẽ có quyền kiểm soát những công ty đó; hoặc có thể thành lập ra một nhóm điều hành những công ty này, nhóm các nhà khoa học nghiên cứu chỉ chiếm một số cổ phần nhỏ trong công ty (không quá 1/3). Cách thức này giúp cho các nhà khoa học có thể đưa những ý tưởng nghiên cứu của mình thành hiện thực với sự trợ giúp kinh phí của các danh gia lớn.

Tạp chí HĐKH: Với 2 chương trình SBIR và STTR, tại sao Chính phủ Hoa Kỳ lại chấp nhận tài trợ cho các chương trình này mà không đòi hỏi một điều kiện nào?

GS Võ Văn TớiThông qua các chương trình hỗ trợ này, Chính phủ sẽ gián tiếp thúc đẩy, khuyến khích các ngành công, kỹ nghệ bằng cách đưa những nghiên cứu từ các viện, trường đại học (khối hàn lâm) ra cuộc sống, làm cho những ngành công, kỹ nghệ đó phát triển. Từ đó, hàng hóa sẽ phát triển đa dạng, phong phú hơn, đồng thời góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho xã hội, đóng thuế cho Nhà nước… Đó chính là một cách làm lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngoài ra, trong một chương trình nghiên cứu năm 1982, người ta nhận thấy rằng những công ty nhỏ thường hữu hiệu và năng động hơn những công ty lớn. Nếu tính theo tỷ lệ đầu người của công ty thì số lượng sáng kiến đề xuất từ những công ty nhỏ cao gấp 2,5 lần so với những công ty lớn. Trong khi đó, những công ty lớn lại nhận được số tiền tài trợ của Chính phủ lớn gấp 3 lần so với các công ty nhỏ. Bởi thế, Chính phủ Hoa Kỳ mới quyết định tung ra chương trình SBIR để khuyến khích các công ty nhỏ tham gia vào chương trình nghiên cứu của Chính phủ. Dựa trên sự thành công của chương trình SBIR, chương trình STTR đã được ra đời 10 năm sau đó.

Tạp chí HĐKH: Như vậy, ở Hoa Kỳ, mô hình doanh nghiệp KH&CN thông qua 2 chương trình trên có thể được gọi là các Start – up (khởi nghiệp) ? Ngoài ra, Hoa Kỳ còn loại hình doanh nghiệp KH&CN nào khác nữa?

GS Võ Văn Tới:Ở Hoa Kỳ có 3 mô hình doanh nghiệp KH&CN chính, đó là: Start-up, Spin-offs, Incubator,  trong đó:

– Start-up (khởi nghiệp): Là danh từ chung để chỉ những công ty nhỏ do các cá nhân hoặc tổ chức thuộc khối hàn lâm (viện nghiên cứu, trường đại học) thành lập ra để bắt đầu nghiên cứu hay thiết kế một sản phẩm nào đó. Đây là những công ty nhỏ độc lập có tư cách pháp lý để có thể nhận được tài trợ từ Chính phủ (thông qua 2 chương trình SBIR và STTR đã nêu trên) hoặc từ tư nhân. Thông thường, những công ty này được hưởng những quyền lợi đặc biệt về thuế trong những năm đầu.

– Spin-offs (thừa kế), hay còn gọi là Spin – out. Đây là mô hình công ty mẹ – con. Công ty con sẽ tách ra từ Công ty mẹ, nhưng vẫn chịu sự điều hành của Công ty mẹ (Công ty mẹ vẫn giữ cổ phần lớn trong Công ty con). Lý do của sự hình thành những công ty này là vì một nhóm các chuyên gia nghiên cứu trong Công ty mẹ đã thành công hay có khả năng thành công trong một hoạt động hay một lĩnh vực hơi xa với những hoạt động bình thường của công ty mẹ. Như vậy, tách rời nhóm này để tạo thành một công ty mới có “căn cước” (identity) mới sẽ dễ có khả năng thu hút sự chú ý của những doanh nghiệp trong ngành. Mô hình này cũng được áp dụng để nối kết sự liên hệ giữa công ty và tổ chức thuộc khối hàn lâm.

– Incubator (vườn ươm): Công ty đó vẫn nằm trong khu vực hàn lâm (viện nghiên cứu, trường đại học). Đây là trường hợp các nhân viên trong trường đại học phát kiến ra những sản phẩm có thể mang lại lợi nhuận nếu có thêm thời gian để phát triển đúng mức. Trường đại học sẽ tiếp tục hỗ trợ tài chính cho đến khi sản phẩm đó trở nên hấp dẫn với các doanh nghiệp. Trong trường hợp đó, trường đại học sẽ chia lợi với các doanh nghiệp và dùng số tiền lời đó để giúp các nghiên cứu sinh của trường.

Tạp chí HĐKH: Theo ông, ở Việt Nam nên phát triển các doanh nghiệp KH&CN theo cách nào?

GS Võ Văn Tới:Ở Việt Nam, có lẽ nên phát triển và áp dụng phổ biến cách thức thứ nhất, với sự hỗ trợ của Chính phủ (mô hình SBIR, STTR). Trong đó, Chính phủ cần có những điều khoản quy định rõ ràng về quyền lợi, những tiêu chí và điều kiện của người thẩm định, xét duyệt và đánh giá khả năng thực thi những kế hoạch nghiên cứu (dự án) đó. Ở Hoa Kỳ, Chính phủ mời những giáo sư, nhà nghiên cứu có kinh nghiệm, trình độ, một số danh gia tham gia vào Hội đồng thẩm định, đánh giá những dự án đó. Những thành viên trong Hội đồng này không được trả lương, không có lợi nhuận gì, sẽ tự giải tán sau khi làm xong nhiệm vụ. Đặc biệt, những thành viên của các Hội đồng này không phải là cố định, mà có sự thay đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế theo từng đề án.

Theo tôi, doanh nghiệp KH&CN là mô hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, đầu tư cho việc công nghiệp hoá các kết quả nghiên cứu tiên tiến có ý nghĩa thực tiễn và mang lại lợi nhuận cao một cách nhanh chóng. Nếu Việt Nam sớm phát triển các hình thức doanh nghiệp này thì sự đóng góp của hệ thống KH&CN vào GDP của đất nước sẽ tăng rất nhanh. Những mô hình này sẽ giúp đưa ra thị trường những sáng kiến từ khu vực hàn lâm, tạo sự liên hệ chắc chắn giữa đại học và các công, kỹ nghệ cũng như khuyến khích sinh viên có đầu óc thực tiễn.

Chính phủ Việt Nam cần sớm đặt ra mục tiêu cho các chương trình phát triển này và cần tập hợp được lực lượng các nhà hoạch định chính sách, kể cả các chuyên gia nước ngoài, các trí thức Việt kiều nhằm hoàn thiện khung pháp lý thích hợp cho Việt Nam. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của các nước như Hàn Quốc, Sinhgapo, Trung Quốc, Hoa Kỳ.

Tạp chí HĐKH: Cảm ơn ông và chúc ông luôn thành công.

 

 

Giảng viên KTYS: Nhà khoa học nữ Việt Nam đầu tiên nhận giải của UNESCO 

Giảng viên KTYS: Nhà khoa học nữ Việt Nam đầu tiên nhận giải của UNESCO 

(Chinhphu.vn) – TS. Trần Hà Liên Phương là 1 trong 15 nhà khoa học nữ được Hội đồng giám khảo lựa chọn từ 236 ứng viên trên toàn thế giới.

LienPhuong.jpg

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương trong chiếc áo dài truyền thống tự hào lên nhận giải cùng các nhà khoa học nữ các nước. Ảnh: VOV

TS. Trần Hà Liên Phương, 34 tuổi, tốt nghiệp ĐH Y Dược TPHCM, đã hoàn thành luận văn tiến sỹ tại ĐH quốc gia Kangwon, Hàn Quốc, hiện là giảng viên Bộ môn Kỹ Thuật Y Sinh, Trường ĐH Quốc tế thuộc ĐH Quốc gia TPHCM đã vinh dự được nhận giải thưởng “Nhà khoa học trẻ tài năng của thế giới” do Quỹ L’Oréal-UNESCO (Vì sự phát triển của phụ nữ trong khoa học) trao tặng.

Đây là lần đầu tiên một nhà khoa học nữ Việt Nam được vinh danh tại giải thưởng này.

TS. Trần Hà Liên Phương là một trong số 15 nhà khoa học nữ được Hội đồng giám khảo gồm 12 nhà khoa học quốc tế danh tiếng lựa chọn từ 236 ứng viên trên toàn thế giới.

Công trình nghiên cứu của TS. Trần Hà Liên Phương cùng nhóm nghiên cứu của mình là về hệ điều trị nano chứa chất fucoidan chiết xuất từ tảo biển tự nhiên, sử dụng các hạt nano mang thuốc vào tiêu diệt thẳng tế bào ung thư, không gây hại cho các tế bào lành trong cơ thể.

Nghiên cứu này mở ra triển vọng tìm được phương thức điều trị ung thư hiệu quả, với chi phí thấp và ít phản ứng phụ.

Phát biểu tại lễ trao giải diễn ra vào ngày 18/3 tại Paris, TS. Trần Hà Liên Phương cho biết, giải thưởng này là sự động viên lớn đối với chị và các đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu tại ĐH Quốc gia TPHCM, đồng thời cũng cấp thêm nguồn tài chính để nhóm tiếp tục các nghiên cứu sâu hơn trong điều trị bệnh ung thư.

Cũng tại buổi lễ, Quỹ L’Oréal-UNESCO đã vinh danh 5 nhà khoa học nữ xuất sắc đại diện cho 5 khu vực trên thế giới là châu Phi và Trung Đông, châu Á-Thái Bình Dương, châu Âu, châu Mỹ Latinh và Bắc Mỹ, do những phát hiện có tính đột phá trong ngành khoa học tự nhiên.

Đại diện Quỹ L’Oréal-UNESCO cho biết, mỗi phụ nữ đoạt giải là một tấm gương sáng trong ngành khoa học. Họ đang từng ngày chứng minh rằng phụ nữ có thể đóng góp rất lớn cho sự tiến bộ của khoa học – một lĩnh vực mà nam giới vẫn đang chiếm ưu thế.

Với mục đích vinh danh các nhà khoa học nữ xuất sắc và hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ tài năng của thế giới, chương trình Giải thưởng khoa học L’Oréal-UNESCO cho tới nay đã vinh danh 2.250 phụ nữ tài năng tại hơn 110 quốc gia.

 

Theo TTXVN, VOV

Báo Dân Trí ngày 24/12/2015 đã chạy tít lớn dưới đây:

Lần đầu tiên ghép thận thành công từ người cho tim ngừng đập; nhà khoa học nữ Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng L’Oreel UNESCO… là những sự kiện nổi bật trong năm 2015 được CLB Nhà báo Khoa học bình chọn.

Xem tin chi tiết dưới đây:

http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/10-su-kien-khoa-hoc-va-cong-nghe-noi-bat-nhat-trong-nam-2015-20151224101032716.htm

 

 

Giảng viên Khoa trở thành Nhà khoa học nữ Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng L’Oreal – UNESCO

Nhà khoa học nữ Việt Nam đầu tiên được UNESCO vinh danh

TT – Ngày 18-3, TS trẻ Trần Hà Liên Phương – giảng viên khoa kỹ thuật y sinh Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP.HCM) – cùng 14 nhà khoa học nữ xuất sắc trên thế giới sẽ được vinh danh tại lễ trao giải thưởng Vì sự phát triển của phụ nữ trong khoa học của quỹ L’Oréal và UNESCO (L’Oréal – UNESCO for Woman in Science) tại đại học Sorbone, Paris (Pháp).

 
TS Trần Hà Liên Phương

TS Trần Hà Liên Phương là nhà khoa học nữ đầu tiên của Việt Nam được nhận giải thưởng này.

TS Phương tham gia giải thưởng với công trình nghiên cứu về hệ mixen chứa fucoidan trong ứng dụng điều trị và hỗ trợ quan sát mô ung thư tại Việt Nam. Công trình này đã được hội đồng khoa học đánh giá cao dựa trên tính hiện đại và tính khoa học cao của đề tài, hướng nghiên cứu tập trung vào những sản phẩm trị liệu ung thư thật hiệu quả, đồng thời giảm thiểu tối đa tác dụng phụ của các loại thuốc này.

Nghiên cứu của TS Trần Hà Liên Phương có thể giúp cho việc điều trị ung thư rẻ hơn và hiệu quả, ít phản ứng phụ hơn với hướng đi khai thác công nghệ nano để phát triển nên phương pháp điều trị mới bằng việc sử dụng fucoidan cho mục đích kép là làm chất dẫn xuất cho thuốc và tự thân là thành tố điều trị bệnh. Khi fucoidan kết hợp với thuốc điều trị ung thư thường kháng nước, phân tử hạt nano sẽ tự tạo lập nhờ vào đặc tính thân nước của fucoidan. Các hạt nano sẽ hỗ trợ quan sát các tế bào ung thư trong suốt quá trình điều trị.

GS Võ Văn Tới, trưởng khoa kỹ thuật y sinh Đại học Quốc tế, cho biết khi học ở Hàn Quốc, TS Phương đã làm quen với công nghệ nano trong điều chế thuốc và lúc về Việt Nam, trong bốn năm công tác tại Đại học Quốc tế, TS Phương tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu này cho người Việt Nam. Trong thời gian đó, khoa đã dồn nhiều nguồn lực hỗ trợ cho công việc nghiên cứu của TS Phương như làm phòng lab với đầy đủ dụng cụ thí nghiệm, mở hướng mới đào tạo sinh viên để có nhân lực hỗ trợ TS Phương nghiên cứu. TS Phương là người rất chín chắn, với khả năng hiện nay, TS Phương có thể dẫn đầu hướng nghiên cứu này.

Trên thế giới cũng có một số trường đại học nổi tiếng nghiên cứu hướng này. Họ có nhiều điều kiện tốt hơn nhưng nghiên cứu của TS Phương lại đạt kết quả rất tốt phát triển theo hướng đặc biệt cho người Việt Nam và được UNESCO đánh giá cao. “Chúng tôi rất vui mừng với kết quả này” – GS Tới nói.

H.NHUNG

==============================

http://www.anninhthudo.vn/giao-duc/nha-khoa-hoc-nu-viet-nam-duoc-vinh-danh-the-gioi/598677.antd

Tiến sĩ TRẦN HÀ LIÊN PHƯƠNG
Đề án nghiên cứu: Nghiên cứu làm tăng hiệu quả điều trị ung thư bằng việc kết hợp Fucoidan và các thuốc kháng ung thư khó tan để tạo các hạt nano.
Tiến sĩ TRẦN HÀ LIÊN PHƯƠNG
Giảng viên
Đại học quốc tế – Đại học quốc gia Tp HCM
Đề tài nghiên cứu của tiến sĩ Trần Hà Liên Phương được 100% phiếu đề cử từ Hội đồng khoa học dựa trên tính hiện đại và tính khoa học cao của đề tài, hướng nghiên cứu tập trung vào những sản phẩm trị liệu ung thư thật hiệu quả đồng thời giảm thiểu tối đa tác dụng phụ của các loại thuốc này. TS Trần Hà Liên Phương (sinh năm 1981, đạt học vị Tiến sĩ năm 2011) đã có nhiều năm nghiên cứu các dạng thuốc tiên tiến phù hợp với xu hướng nghiên cứu hiện đại, trong 05 năm gần đây đã có 18 công bố trên các Tạp chí dược học quốc tế uy tín. Năm 2013, Tiến sĩ có hai bài gửi đăng trên Journal of Biomedical Nanotechnology.

Theo đề án nghiên cứu, việc chế tạo hạt nano mang thuốc điều trị ung thư sẽ khắc phục được các vấn đề trên. Mặt khác, do đặc tính cấu trúc tế bào ung thư thì hạt nano còn dễ đi đến và dễ được hấp thu vào các tế bào này. Vấn đề là cần nghiên cứu tìm cách để gắn thuốc vào hạt nano mà không làm mất họat tính điều trị và làm tăng tính tan của thuốc. Nếu gắn được một vài lọai thuốc vào hạt nano thì hiệu quả điều trị càng cao.

Điều thú vị của đề án, theo Giáo sư Phạm Thị Trân Châu nhận xét “tác giả đã sử dụng nguyên liệu mới là fucoidan là một polymer ưa nước có trong tảo nâu, có tác dụng chống ung thư để liên hợp với một thuốc chống ung thư khác không có tính ưa nước để gắn vào hạt nano. Nghiên cứu sẽ giúp tạo được hạt nano mang thuốc có lớp vỏ ưa nước nên đễ dàng tuần hòan trong máu, do đó làm gia tăng nồng độ thuốc trong mô ung thư”.

Hướng nghiên cứu của Tiến sỹ Trần Hà Liên Phương có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rõ rệt, có khả năng tiếp tục phát triển lâu dài trong tương lai, góp phần nâng cao hiệu quả điều tri của các thuốc chống ung thư. Thành công của hướng nghiên cứu này sẽ đóng góp một hệ trị liệu mới thật hiệu quả trong công tác điều trị bệnh ung thư ở Việt nam.

http://nguoiviet.de/nv/modules.php?name=News&op=viewst&sid=32096

=================================

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương – Nhà khoa học nữ của Việt Nam được thế giới vinh danh
07.03.2015 11:14
(NguoiViet.de) Lần đầu tiên, Việt Nam có một nhà khoa học nữ được vinh danh cùng 14 nhà khoa học nữ các nước qua giải thưởng Nhà Khoa học trẻ Tài năng của thế giới – Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương, Giảng viên Khoa Công nghệ Y Sinh, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

TS Trần Hà Liên Phương

Ngày 18-3, tại Sorbonne, Paris (Pháp) Quỹ L’Oréal và UNESCO sẽ tổ chức vinh danh ngành khoa học và tri thức trên toàn thế giới qua Giải thưởng L’Oréal -UNESCO For Women in Science (Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học) cho 5 nhà khoa học nữ xuất sắc và 15 nhà nghiên cứu trẻ tài năng các nước. Trong số đó, Việt Nam vinh dự có tiến sĩ Trần Hà Liên Phương, Giảng viên Khoa Công nghệ Y Sinh, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

5 nhà khoa học nữ xuất sắc đến từ Anh, Morocco, Trung Quốc, Brasil, Canada. 15 nhà khoa học trẻ tài năng quốc tế đến từ các nước Úc, Brasil, Đan Mạch, Ai Cập, Malaysia, Nam Phi, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ… và Việt Nam.

Các Nhà khoa học trẻ tài năng quốc tế được lựa chọn từ các nước trong từng khu vực trên thế giới, châu Phi và các vương quốc Ả Rập, Châu Á-Thái Bình Dương, châu Âu, châu Mỹ Latin và Bắc Mỹ.

Những nhà nghiên cứu được trao tặng Nhà Khoa học trẻ tài năng năm nay đã có những đóng góp đáng kể trong các ngành nghiên cứu đa dạng như sinh thái và phát triển bền vững, vật lý, dược học, dịch tễ học, nghiên cứu y học, khoa học thần kinh và sinh học tiến hóa.

Lĩnh vực nghiên cứu của TS Liên Phương là khoa học Dược và Ung thư. TS được vinh danh qua nghiên cứu về hệ mixen chứa fucoidan trong ứng dụng điều trị và hỗ trợ quan sát mô ung thư tại Việt Nam.

TS Trần Hà Liên Phương cũng có kế hoạch nghiên cứu sử dụng fucoidan như là polymer trong các hạt nano, một chiết xuất từ rong biển được phát hiện gần đây là có đặc tính chống ung thư và có thể hoạt động như một polymer. Fuicodan do đó sẽ có thể được sử dụng cho mục đích kép là làm chất dẩn xuất cho thuốc và tự thân là thành tố điều trị bệnh.

Khi FUCOIDAN kết hợp với thuốc điều trị ung thư thường kháng nước, phân tử hạt nano sẽ tự tạo lập nhờ vào đặc tính thân nước của fucoidan. Các hạt nano sẽ hỗ trợ quan sát các tế bào ung thư trong suốt quá trình điều trị. Dự án nghiên cứu của TS Trần Hà Liên Phương có thể giúp cho việc điều trị ung thư rẻ hơn và hiệu quả với ít phản ứng phụ hơn.

“Chúng ta cần nổ lực tạo ra các loại thuốc không chỉ có tính hiệu quả mà còn phải có giá thành phù hợp vì lợi ích của các bệnh nhân ở các nước đang phát triển”, TS Liên Phương chia sẻ.

Hội đồng Giám khảo Nhà khoa học trẻ tài năng 2015 bao gồm 12 nhà khoa học danh tiếng là thành viên của Hội đồng Khoa học Khu vực và các quốc gia Brazil, Canada, Chile, Trung quốc, Pháp, Đức, Ấn độ, Ý, Lebanon, Morocco, Ba Lan và Nga.

Mỗi phụ nữ đoạt giải là một tấm gương sáng trong ngành khoa học. Họ đang từng ngày chứng minh rằng phụ nữ có thể đóng góp rất lớn cho sự tiến bộ khoa học trong một lĩnh vực mà đàn ông vẫn đang chiếm ưu thế. Bước vào thiên niên kỷ thứ 3, vẫn còn nhiều sự tiến bộ phải được tạo ra để đạt mục tiêu cân bằng giới trong lĩnh vực khoa học. Chỉ 30% số nhà khoa học trên thế giới là phụ nữ và vẫn còn nhiều rào cản, trở ngại cản trở phụ nữ tham gia hoặc theo đuổi sự nghiệp khoa học.

Với mục đích vinh danh các nhà khoa học nữ xuất sắc và hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ tài năng của thế giới, chương trình Giải thưởng khoa học L’Oréal-UNESCO dành 5 giải thưởng hàng năm để vinh danh các nhà khoa học và hỗ trợ phát triển nghiên cứu cho 15 phụ nữ trẻ tài năng được chọn từ hơn 230 tiến sĩ nhận học bổng quốc gia của L’Oreal các nước được trao hàng năm trên khắp thế giới. Từ năm 1998, chương trình Vì sự phát triển Phụ nữ trong khoa học này đã vinh danh 2.250 phụ nữ tài năng tại hơn 110 quốc gia.

L.Trinh

=========

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương, 34 tuổi, cùng 14 nhà khoa học nữ các nước đã vinh dự được nhận giải thưởng “Tài năng trẻ thế giới” do Quỹ L’Oreal phối hợp cùng tổ chức UNESCO trao tặng. Được biết, 15 nhà khoa học nữ trẻ có triển vọng được Hội đồng giám khảo gồm 12 nhà khoa học quốc tế danh tiếng lựa chọn từ 236 ứng viên trên toàn thế giới.

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương trong chiếc áo dài truyền thống tự hào lên nhận giải cùng các nhà khoa học nữ các nước

 

Tự hào đi kèm trách nhiệm

Về cảm xúc khi được nhận giải thưởng vinh dự này của L’Oreal – UNESCO, Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương nói: “Cảm giác đầu tiên là tự hào và hãnh diện, khi được tin đạt giải tôi còn không tin nổi. Đây là lần đầu tiên có một người Việt Nam được giải này nên tôi phần nào cảm thấy gánh nặng, phải làm sao để tiếp tục nghiên cứu thành công hơn”.

Công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương cùng nhóm nghiên cứu của mình là về hệ điều trị nano chứa chất fucoidan chiết xuất từ tảo biển tự nhiên, sử dụng các hạt nano mang thuốc vào tiêu diệt thẳng tế bào ung thư, không gây hại cho các tế bào lành trong cơ thể. Nghiên cứu này mở ra triển vọng tìm được phương thức điều trị ung thư hiệu quả, với chi phí thấp và ít phản ứng phụ.

Nghiên cứu y học phải phục vụ tốt cho người dân các nước đang phát triển

Trao đổi với PV VOV, Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương cho biết, giải thưởng là sự động viên cả tinh thần lẫn vật chất quan trọng để chị cùng các đồng nghiệp thúc đẩy công trình nghiên cứu đạt đến kết quả cao hơn.

 

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương trao đổi với PV VOV

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương nói: “Sở dĩ chúng tôi sử dụng nguyên liệu tự nhiên là bởi các loại hiện tại có nhiều tác dụng phụ không mong muốn và độc tính, vả lại giá thành cao. Vậy thì đặt câu hỏi là tại sao không sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên vừa rẻ, lại vừa có thể tương hợp với cơ thể tốt. Kết quả đạt được rất khả quan, nhưng mới trên phòng thí nghiệm thôi, nếu muốn tiếp tục nghiên cứu sâu hơn thì phải có kinh phí. Vì vậy, giải thưởng này có ý nghĩa quan trọng, giúp chúng tôi có thể thúc đẩy nghiên cứu sâu hơn. Thuốc điều trị ung thư phải nghiên cứu nhiều năm và đầu tư rất lớn”.

Phát biểu tại buổi họp báo chính thức trước giờ công bố giải, Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương khẳng định: “Cần thúc đẩy y học không chỉ hiệu quả mà phải phục vụ tốt nhất cho người dân ở các nước đang phát triển”.

 

Tiếnsĩ Trần Hà Liên Phương thuyết trình về Nghiên cứu của mình tại cuộc họp báo chính thức của giải thưởng

Nguyện vọng của tiến sĩ Trần Hà Liên Phương là làm sao các nghiên cứu, các ý tưởng của các nhà khoa học nữ, các nhà khoa học trẻ tại Việt Nam được tạo nhiều điều kiện triển khai và thúc đẩy hơn nữa.

Còn theo bà Nguyễn Ngọc Tuyết Trinh, Giám đốc truyền thông của L’Oreal Việt Nam, thì giải thưởng thế giới cũng như hệ thống giải thưởng quốc gia mà Quỹ L’Oreal dành cho Việt Nam hàng năm là nhằm giúp kết nối các nhà khoa học nữ Việt Nam với thế giới, mở rộng cánh cửa để những ý tưởng sáng tạo và mới mẻ của họ có điều kiện được nghiên cứu và triển khai.

Cần thúc đẩy và nhìn nhận tốt hơn vai trò của phụ nữ trong nghiên cứu khoa học

Cùng với giải thưởng “Tài năng trẻ thế giới”, tại buổi lễ, Quỹ L’Oreal – UNESCO còn trao 5 giải thưởng Khoa học Quốc tế lớn cho 5 nhà khoa học nữ xuất sắc nhất trong các khu vực châu Phi và các nước Arab (Giáo sư Rajaa Cherkaoui El Moursli, ngành Vật lý Năng lượng cao và Vật lý hạt nhân – Maroc); châu Á – Thái Bình Dương (Giáo sư Yi Xie, ngành Hóa vô cơ – Trung Quốc); châu Âu (Giáo sư Dame Carol Robinson, ngành Hóa lý – Anh) ; Mỹ Latin (Giáo sư Thaisa Storchi Bergmann, ngành Vật lý và Thiên văn học – Brasil); Bắc Mỹ (Giáo sư Molly S.Schoichet, ngành Hóa học – Canada).

 

Tổng giámđốc UNESCO phát biểu tại buổi lễ

Các nữ khoa học được giải thưởng đều có chung nhận định rằng, khó khăn lớn đối với phụ nữ khi nghiên cứu khoa học là phải cân bằng được giữa công việc và gia đình. Nữ tiến sỹ Malaysia Yoke –Fun Chan, ngành Y tế vi sinh nói: “Giải thưởng này đặc biệt dành cho phụ nữ có ý nghĩa như một động lực cho sự nghiệp của chúng tôi trên con đường tương lai, cho chúng tôi thấy mình được ghi nhận và có thể làm tốt hơn. Vai trò của phụ nữ làm khoa học chưa được đánh giá cao, nhưng thực chất, sự đóng góp của phụ nữ trong nghiên cứu khoa học là thực tế và cần được thúc đẩy. Khó khăn lớn nhất đối với chúng tôi là luôn đặt gia đình bên cạnh công việc, phải dành thời gian chăm sóc gia đình, con cái song song và cân bằng với công tác nghiên cứu khoa học”.

Các ý kiến đều nhấn mạnh rằng nghiên cứu của các nhà khoa học nữ có ý nghĩa nhân văn cao, hướng nhiều đến lợi ích của con trẻ, của phụ nữ và các đối tượng thiệt thòi trong xã hội. Việc thúc đẩy vai trò của phụ nữ làm khoa học là không thể thiếu, giúp bổ sung, đa dạng hơn, mở ra triển vọng tươi sáng hơn cho các nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới.

Từ năm 1998 đến nay, chương trình Vì sự phát triển phụ nữ trong khoa học của L’Oreal – UNESCO đã vinh danh 2.250 phụ nữ tài năng tại hơn 110 quốc gia. Tại Việt Nam, chương trình được bắt đầu từ năm 2009./.

Thùy Vân/VOV – Paris

===========================

Lần đầu tiên một nhà khoa học nữ Việt Nam nhận giải của UNESCO

BÍCH HÀ/PARIS (VIETNAM+) LÚC : 18/03/15 21:26

Tiến sỹ Trần Hà Liên Phương giới thiệu nghiên cứu điều trị bệnh ung thư bằng cách khai thác công nghệ nano. (Ảnh: Bích Hà)

Theo phóng viên TTXVN tại Pháp, nữ tiến sỹ Trần Hà Liên Phương, Giảng viên Khoa Kỹ thuật Y sinh trường Đại học Quốc tế thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã vinh dự được nhận giải thưởng “Nhà khoa học trẻ tài năng của thế giới” do Quỹ L’Oréal-UNESCO (Vì sự phát triển của phụ nữ trong khoa học) trao tặng.

Đây là lần đầu tiên một nhà khoa học nữ Việt Nam được vinh danh tại giải thưởng này.

Tiến sỹ Trần Hà Liên Phương cùng các nhà khoa học nữ đoạt giải thưởng L’Oréal-UNESCO tại lễ trao giải tối 18/3 tại Paris. (Bích Hà/Vietnam+)

Tiến sỹ Trần Hà Liên Phương là một trong số 15 nhà khoa học nữ được Hội đồng giám khảo gồm 12 nhà khoa học quốc tế danh tiếng lựa chọn từ 236 ứng viên trên toàn thế giới.

Công trình nghiên cứu của bà về hệ mixen chứa chất fucoidan ứng dụng trong điều trị bệnh ung thư được đánh giá cao về khả năng chữa trị hiệu quả, với chi phí thấp và ít phản ứng phụ.

Hướng nghiên cứu sử dụng công nghệ nano mà bà và các đồng nghiệp đang tiến hành đã mở ra khả năng áp dụng phương pháp điều trị mới bằng cách mang thuốc đến đúng vị trí tế bào ung thư đồng thời không làm ảnh hưởng đến các tế bào khác.

Tiến sỹ Trần Hà Liên Phương, 34 tuổi, tốt nghiệp Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, đã hoàn thành luận văn tiến sỹ tại Đại học quốc gia Kangwon, Hàn Quốc.

Phát biểu tại lễ trao giải diễn ra vào ngày 18/3 tại Paris, tiến sỹ Trần Hà Liên Phương cho biết bà vô cùng vui mừng và xúc động khi là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được nhận giải thưởng “Nhà khoa học trẻ tài năng” do Quỹ L’Oréal-UNESCO trao tặng.

Tiến sỹ cho biết, giải thưởng này là sự động viên lớn đối với bà và các đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời cũng cấp thêm nguồn tài chính để nhóm tiếp tục các nghiên cứu sâu hơn trong điều trị bệnh ung thư.

Ngoài ra bà cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tạo ra các loại thuốc không chỉ có tính hiệu quả mà còn phải có giá thành phù hợp vì lợi ích của các bệnh nhân ở các nước đang phát triển.

Cũng tại buổi lễ, Quỹ L’Oréal-UNESCO đã vinh danh 5 nhà khoa học nữ xuất sắc đại diện cho 5 khu vực trên thế giới là châu Phi và Trung Đông, châu Á-Thái Bình Dương, châu Âu, châu Mỹ Latinh và Bắc Mỹ, do những phát hiện có tính đột phá trong ngành khoa học tự nhiên.

Năm nhà khoa học nữ đến từ Morocco, Trung Quốc, Anh, Brasil, Canada đã có những công trình nghiên cứu trong các lĩnh vực vật lý năng lượng cao-vật lý hạt nhân, công nghệ nano, phương pháp khối phổ-sinh học cấu trúc, vật lý và thiên văn học, hóa học polymer.

Phát biểu tại buổi họp báo trước lễ trao giải, đại diện Quỹ L’Oréal-UNESCO cho biết mỗi phụ nữ đoạt giải là một tấm gương sáng trong ngành khoa học. Họ đang từng ngày chứng minh rằng phụ nữ có thể đóng góp rất lớn cho sự tiến bộ của khoa học-một lĩnh vực mà nam giới vẫn đang chiếm ưu thế.

Với mục đích vinh danh các nhà khoa học nữ xuất sắc và hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ tài năng của thế giới, chương trình Giải thưởng khoa học L’Oréal-UNESCO cho tới nay đã vinh danh 2.250 phụ nữ tài năng tại hơn 110 quốc gia./.

 

© Bản quyền thuộc về Báo Tin tức – TTXVN

 

=====================================

03:22 18/03/2015

Nữ tiến sĩ Việt nhận giải ‘Nhà khoa học trẻ tài năng thế giới’

Nữ tiến sĩ Trần Hà Liên Phương của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã vinh dự được nhận giải thưởng “Nhà khoa học trẻ tài năng thế giới” do Quỹ L’Oréal-UNESCO trao tặng vì đã có những phát hiện trong phương pháp điều trị ung thư.

Nữ Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã vinh dự được nhận giải thưởng “Nhà khoa học trẻ tài năng thế giới” do Quỹ L’Oréal-UNESCO trao tặng vì đã có những phát hiện trong phương pháp điều trị ung thư. Đây là lần đầu tiên một nhà khoa học nữ Việt Nam được vinh dự nhận giải thưởng này. 

 

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương giới thiệu nghiên cứu điều trị bệnh ung thư bằng cách khai thác công nghệ nano tại buổi họp báo diễn ra ngày 18/3 tại Paris.

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương là một trong số 15 nhà khoa học nữ được Hội đồng giám khảo, gồm 12 nhà khoa học quốc tế danh tiếng lựa chọn từ 236 ứng viên trên toàn thế giới để trao giải. Công trình nghiên cứu của chị về hệ mixen (chất hoạt động bề mặt) chứa chất fucoidan (có trong tảo biển, có tác dụng làm cho tế bào ung thư tự hủy diệt) ứng dụng trong điều trị bệnh ung thư được đánh giá cao về khả năng chữa trị hiệu quả, với chi phí thấp và ít phản ứng phụ.

Hướng nghiên cứu sử dụng công nghệ nano mà chị và các đồng nghiệp đang tiến hành đã mở ra khả năng áp dụng phương pháp điều trị mới bằng cách đưa thuốc đến chính xác vị trí tế bào ung thư, nhờ đó không làm ảnh hưởng đến các tế bào khỏe mạnh khác.

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương, 34 tuổi, tốt nghiệp Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành luận văn tiến sĩ tại Đại học quốc gia Kangwon, Hàn Quốc.Hiện chị là giảng viên Khoa Kỹ thuật Y sinh trường Đại học Quốc tế thuộc Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.

Phát biểu tại lễ trao giải diễn ra vào ngày 18/3 tại Paris, tiến sĩ Trần Hà Liên Phương cho biết chị vô cùng vui mừng và xúc động khi là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được nhận giải thưởng “Nhà khoa học trẻ tài năng” do Quỹ L’Oréal-UNESCO trao tặng.

 

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương (mặc áo dài) cùng các nhà khoa học nữ đoạt giải thưởng L’Oréal-UNESCO tại lễ trao giải tối 18/3 tại Paris.  

Với chị và các đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, giải thưởng này không chỉ là sự động viên lớn, mà còn là nguồn tài chính bổ sung để nhóm tiếp tục các nghiên cứu sâu hơn trong điều trị bệnh ung thư. Chị cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải điều chế ra được loại thuốc không chỉ hiệu quả mà còn phải có giá thành phù hợp, vì lợi ích của những bệnh nhân ở các nước đang phát triển.

Cũng tại buổi lễ, Qũy L’Oréal-UNESCO đã vinh danh 5 nhà khoa học nữ xuất sắc đại diện cho 5 khu vực trên thế giới là châu Phi và Trung Đông, châu Á-Thái Bình Dương, châu Âu, Mỹ Latinh và Bắc Mỹ, do những phát hiện có tính đột phá trong ngành khoa học tự nhiên.

5 nhà khoa học nữ đến từ Morocco, Trung Quốc, Anh, Brazil, Canada đã có những công trình nghiên cứu trong các lĩnh vực vật lý năng lượng cao-vật lý hạt nhân, công nghệ nano, phương pháp khối phổ-sinh học cấu trúc, vật lý và thiên văn học, hóa học polymer.

Phát biểu tại buổi họp báo trước lễ trao giải, đại diện Qũy L’Oréal-UNESCO cho biết mỗi phụ nữ đoạt giải là một tấm gương sáng trong ngành khoa học. Họ đang từng ngày chứng minh rằng phụ nữ có thể đóng góp rất lớn cho sự tiến bộ của khoa học – một lĩnh vực mà tỷ lệ nam giới vẫn đang chiếm tới 70%. Bước vào thiên niên kỷ thứ 3, vẫn cần nhiều bước tiến để đạt mục tiêu cân bằng giới trong lĩnh vực khoa học, giảm bớt những rào cản, trở ngại cản trở phụ nữ tham gia hoặc theo đuổi sự nghiệp khoa học.

Giải thưởng L’Oréal-UNESCO (Vì sự phát triển của phụ nữ trong khoa học) được trao hàng năm để vinh danh các nhà khoa học nữ xuất sắc và hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ tài năng của thế giới.Kể từ năm 1998, chương trình này đã vinh danh 2.250 phụ nữ tài năng tại hơn 110 quốc gia.

Tin, ảnh: Bích Hà (P/v TTXVN tại Pháp)

====================================================

(Chinhphu.vn) – TS. Trần Hà Liên Phương là 1 trong 15 nhà khoa học nữ được Hội đồng giám khảo lựa chọn từ 236 ứng viên trên toàn thế giới.

LienPhuong.jpg

Tiến sĩ Trần Hà Liên Phương trong chiếc áo dài truyền thống tự hào lên nhận giải cùng các nhà khoa học nữ các nước. Ảnh: VOV

TS. Trần Hà Liên Phương, 34 tuổi, tốt nghiệp ĐH Y Dược TPHCM, đã hoàn thành luận văn tiến sỹ tại ĐH quốc gia Kangwon, Hàn Quốc, hiện là giảng viên Khoa Công nghệ y sinh, Trường ĐH Quốc tế thuộc ĐH Quốc gia TPHCM đã vinh dự được nhận giải thưởng “Nhà khoa học trẻ tài năng của thế giới” do Quỹ L’Oréal-UNESCO (Vì sự phát triển của phụ nữ trong khoa học) trao tặng.

Đây là lần đầu tiên một nhà khoa học nữ Việt Nam được vinh danh tại giải thưởng này.

TS. Trần Hà Liên Phương là một trong số 15 nhà khoa học nữ được Hội đồng giám khảo gồm 12 nhà khoa học quốc tế danh tiếng lựa chọn từ 236 ứng viên trên toàn thế giới.

Công trình nghiên cứu của TS. Trần Hà Liên Phương cùng nhóm nghiên cứu của mình là về hệ điều trị nano chứa chất fucoidan chiết xuất từ tảo biển tự nhiên, sử dụng các hạt nano mang thuốc vào tiêu diệt thẳng tế bào ung thư, không gây hại cho các tế bào lành trong cơ thể.

Nghiên cứu này mở ra triển vọng tìm được phương thức điều trị ung thư hiệu quả, với chi phí thấp và ít phản ứng phụ.

Phát biểu tại lễ trao giải diễn ra vào ngày 18/3 tại Paris, TS. Trần Hà Liên Phương cho biết, giải thưởng này là sự động viên lớn đối với chị và các đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu tại ĐH Quốc gia TPHCM, đồng thời cũng cấp thêm nguồn tài chính để nhóm tiếp tục các nghiên cứu sâu hơn trong điều trị bệnh ung thư.

Cũng tại buổi lễ, Quỹ L’Oréal-UNESCO đã vinh danh 5 nhà khoa học nữ xuất sắc đại diện cho 5 khu vực trên thế giới là châu Phi và Trung Đông, châu Á-Thái Bình Dương, châu Âu, châu Mỹ Latinh và Bắc Mỹ, do những phát hiện có tính đột phá trong ngành khoa học tự nhiên.

Đại diện Quỹ L’Oréal-UNESCO cho biết, mỗi phụ nữ đoạt giải là một tấm gương sáng trong ngành khoa học. Họ đang từng ngày chứng minh rằng phụ nữ có thể đóng góp rất lớn cho sự tiến bộ của khoa học – một lĩnh vực mà nam giới vẫn đang chiếm ưu thế.

Với mục đích vinh danh các nhà khoa học nữ xuất sắc và hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ tài năng của thế giới, chương trình Giải thưởng khoa học L’Oréal-UNESCO cho tới nay đã vinh danh 2.250 phụ nữ tài năng tại hơn 110 quốc gia.

 

Theo TTXVN, VOV

 

 

 

TBYT Viễn Thông của BM trong “Triển lãm giới thiệu sản phẩm sáng tạo và kết nối doanh nghiệp–ĐHQG 

TBYT Viễn Thông của BM trong “Triển lãm giới thiệu sản phẩm sáng tạo và kết nối doanh nghiệp–ĐHQG 

Máy đo viễn áp, sản phẩm xe lăn điện thông minh, trạm quan trắc khí tượng tự động ứng dụng công nghệ mạng cảm biến không dây… là 3 trong số những công trình tiêu biểu của Trường Đại học Quốc tế, ĐHQG – TPHCM thu hút sự quan tâm của đông đảo người tham dự trong “Triển lãm giới thiệu sản phẩm sáng tạo và kết nối doanh nghiệp – Đại học Quốc gia TP. HCM”.

Hưởng ứng chào mừng ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5 hàng năm, đồng thời hướng đến kỷ niệm 20 năm thành lập ĐHQG-TPHCM, sáng ngày 16/5/2014, tại trường ĐH Bách Khoa TP. HCM cơ sở 268 Lý Thường Kiệt, quận 10, TP. HCM đã diễn ra buổi “Triển lãm giới thiệu sản phẩm sáng tạo và kết nối doanh nghiệp – Đại học Quốc gia TPHCM” với hơn 40 gian hàng của nhiều đơn vị, và hơn 130 sản phẩm trải khắp trên 5 nhóm lĩnh vực: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, kỹ thuật và công nghệ, nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng.

Trường Đại học Quốc tế, ĐHQG – TPHCM cũng đồng hành cùng chương trình triển lãm tại gian hàng số 37, 38, 39 và 40. Trong dịp này, Nhà trường giới thiệu các sản phẩm khoa học sáng tạo, các mô hình và quy trình NCKH có tính ứng dụng cao do các nhà khoa học, cán bộ, giảng viên, sinh viên của trường nghiên cứu và hợp tác thực hiện.

VHDN-TrienlamKhoahocDHQT-3

TS. Nguyễn Văn Chung – Phó Hiệu trưởng nhà trường – thứ 4 từ trái sang cùng các thầy cô Trường Đại học Quốc tế – ĐHQG HCM tham gia tại buổi Triển lãm

Một số sản phẩm và mô hình tiêu biểu của trường Đại học Quốc tế tham gia triển lãm bao gồm:

Bộ môn Kỹ thuật Y sinh: Các thiết bị y tế tiên tiến được thiết kế và chế tạo tại Bộ môn như xe lăn điện thông minh, máy viễn áp, máy điện tim viễn thông, máy đo oxy SPO2, hệ thống hô hấp ký…

VHDN-TrienlamKhoahocDHQT-2

Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Nguyễn Quân đến tham quan gian hàng triển lãm của Đại học Quốc tế – ĐHQG HCM và sử dụng thử máy đo viễn áp của Bộ môn Kỹ Thuật Y sinh – Đại học Quốc tế 

VHDN-TrienlamKhoahocDHQT-4

Sản phẩm xe lăn điện thông minh của Bộ môn Kỹ thuật Y sinh – Đại học Quốc tế – ĐHQG HCM

Khoa Công nghệ Sinh học: Nghiên cứu vi tảo biển; Quy trình sản xuất phân tử trị ung thư từ nấm mốc, tetrodotoxin từ vi sinh vật ở cá nóc; Quy trình sử dụng đất sét Lâm Đồng biến tính để tinh chế hỗn hợp sản phẩm diesel sinh học theo phương pháp rửa khô; Hệ thống ương, nuôi cá biển năng suất cao SMART; Quy trình công nghệ sản xuất tá dược dạng tinh bột nano…

VHDN-TrienlamKhoahocDHQT-5

Máy đo oxy SPO2

Khoa Điện tử Viễn thông: Mô hình 3D xây dựng hình ảnh ra-đa góc mở rộng; Hệ thống nhận dạng chuyển động dùng Microsoft Kinect và Matlab; Phòng hấp thụ; Trạm quan trắc Khí tượng tự động.

VHDN-TrienlamKhoahocDHQT-1

Sinh viên tham quan tìm hiểu về Trạm quan trắc khí tượng tự động ứng dụng công nghệ mạng cảm biến không dây thông suốt của Khoa Điện tử Viễn thông – Đại học Quốc tế – ĐHQG HCM.

Khoa Công nghệ thông tin: Giao thức điều khiển tắc nghẽn đa đường m-Reno

Bộ môn Anh: Phần mềm đánh giá văn bản học thuật tiếng Anh

Khoa Quản trị Kinh doanh: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại Việt Nam; Năng suất và hiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam; Chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2013; Định lượng quy trình cấu trúc phân tích chọn công nghệ xử lý nước ở vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long…

Ngay từ khi thành lập, trường ĐH Quốc tế – ĐHQG TP. HCM đã đề ra và thực hiện những chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học, tạo được một môi trường giảng dạy và nghiên cứu khoa học chất lượng, đầu tư cơ sở vật chất, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh nhằm củng cố, tăng cường và đa dạng hóa thực hiện các công trình khoa học sáng tạo nhằm giải quyết kịp thời các vấn đề cấp bách của xã hội, phát triển kinh tế của địa phương và cả nước. Đặc biệt, chú trọng hướng nghiên cứu ứng dụng về Điều khiển giao thông bằng hệ thống viễn thông, thiết lập hệ thống quản lý ô nhiễm môi trường nước, nghiên cứu biến đổi khí hậu. Trường vinh dự đạt được những thành tựu ban đầu về KHCN: giải thưởng Đơn vị nghiên cứu, Đơn vị chuyển giao công nghệ của năm,…

Triển lãm lần này không những mang ý nghĩa khoa học mà còn là dịp ghi nhận, khuyến khích động viên để tạo động lực tiến xa hơn trong hoạt động nghiên cứu, hợp tác và ứng dụng của cán bộ, giảng viên, sinh viên trường Đại học Quốc tế nói riêng và toàn xã hội nói chung.

Trường Đại học Quốc tế là một trong sáu trường đại học thành viên trực thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập vào tháng 12 năm 2003. Đây là trường đại học công lập đa ngành đầu tiên và duy nhất hiện nay tại Việt Nam sử dụng hoàn toàn tiếng Anh trong công tác đào tạo giảng dạy và nghiên cứu.

Hiện nay, Nhà trường đang đào tạo hệ chính quy bậc đại học và sau đại học. Nhà trường tập trung đào tạo các ngành học thuộc lĩnh vực mũi nhọn như như kinh tế, quản lý, kỹ thuật công nghệ. Mô hình hoạt động của trường được xây dựng hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế về đội ngũ giảng viên, giáo trình, chương trình học có định hướng và liên thông với các trường đại học có thứ hạng cao ở các nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Châu Âu và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Mục tiêu của Trường Đại học Quốc tế là trở thành một trong những trường đại học nghiên cứu hàng đầu tại Việt Nam và trong khu vực, có khả năng đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển và hội nhập của đất nước.

 

 

 

Vũ Cát Tường: Nhìn 15 triệu đồng mẹ vay, tôi hứa liều 

Vũ Cát Tường: Nhìn 15 triệu đồng mẹ vay, tôi hứa liều 

Ít người biết rằng Vũ Cát Tường – cô học trò cưng của huấn luyện viên Hồng Nhung tại The Voice mùa thứ hai – lại sắp tốt nghiệp đại học với bằng kỹ sư ngành Kỹ thuật y sinh, trường ĐH Quốc tế – ĐH Quốc gia TP.HCM.

Thậm chí, nghệ sĩ trẻ này còn có học bổng toàn phần trong suốt những năm học vừa qua.

Học để giành cơ hội cho người tốt nhất

Một Cát Tường nghệ sĩ liên quan gì với Cát Tường của thế giới bệnh viện, bệnh nhân nhỉ?

– Xin được nói trước rằng tôi thích ngành y, chọn học ngành y nhưng tôi không thích trở thành bác sĩ đâu nhé.

Ngay từ năm lớp 11 tôi đã bắt đầu chọn ngành nghề trong tương lai cho mình. Tôi thích y, dược, nhưng lại không thích làm bác sĩ, không thích vào trường y vì thời gian học tới 7, 8 năm, lâu quá vì tôi cũng đồng thời muốn theo đuổi cả âm nhạc.

Rồi cuối cùng tôi tìm được ngành kỹ thuật y sinh. Ngành học này đáp ứng được cả về mặt thời gian – học 4 năm, vẫn được tiếp xúc với bác sĩ, bệnh nhân, làm việc ở bệnh việc, vẫn đọc sách, nghiên cứu…. đúng sở thích, nên tôi chọn học.

“Nhất y nhì dược…” – Yếu tố ngành hot có đóng vai trò trong quyết định chọn ngành của Cát Tường không?

– Tại thời điểm tôi chọn đây không phải là ngành hot.

Nhưng tôi quan niệm rằng, học tập giống như một chuyến đi, biết mình đang làm gì, điều đó sẽ đưa đến đâu, thì ta sẽ đến đó.

Từ kinh nghiệm của bản thân, và từ bạn bè, Tường cho rằng học sinh phổ thông nên định hướng ngành nghề như thế nào? Vai trò của giáo viên phổ thông với định hướng nghề nghiệp cho học sinh?

– Theo tôi, vai trò của giáo viên chiếm 20%, 30% dành cho gia đình, và 50% do tính cách của mình. Quan trọng nhất là bản thân. Các bạn phải chủ động đi hỏi người này người kia để chắc chắn sự lựa chọn. Không ai sống hộ cuộc sống của mình.

Phải biết mình là ai mới chọn được ngành nghề phù hợp. Lớp 11, 12 chưa đủ hiểu biết để biết mình nên cần một người lắng nghe, khuyên bảo nhưng vẫn tôn trọng ý kiến của mình. Với tôi người đó là mẹ. Tôi nói với mẹ tại sao muốn chọn, lý do chọn ngành học đó. Mẹ thấy tôi có sự tìm hiểu về ngành đó sẽ tin và đồng ý. “Cứ làm gì con thấy hạnh phúc” – đó là lời của mẹ mà tôi luôn nhớ.

Nhưng tôi thấy rằng, thậm chí khi đã chọn ngành, năm thứ nhất, thứ hai có khi còn chưa chắc chắn đã hiểu mình có hợp với ngành đó hay không.

Tôi đúc kết lại, ngành nào cũng có cái hay nếu học tới nơi tới chốn. Thậm chí cả khi không biết cuối con đường là gì.

Và đã chọn thì bỏ suy nghĩ có học hay không. Mà hãy học để giành lấy cơ hội cho người tốt nhất.

Tôi hứa trước 15 triệu đồng mẹ vay

– Khi tôi nhập học, mẹ phải đi vay tiền khắp nơi. Vào học kỳ I mà chưa biết tiền đâu để đóng học kỳ II.

Tôi nhớ rất rõ ngày mẹ cầm về xấp tiền đủ loại vì vay mượn. Tôi đã bật hứa với mẹ rằng chỉ cần lo tiền học tôi trong năm nay thôi.

Lúc đó hứa liều vì không biết trước mắt như thế nào. Nhưng rồi lần nộp tiền học đầu tiên đó cũng là lần duy nhất. Sau đó, tôi đã có được học bổng toàn phần.

Tôi thấy rằng, nếu thực sự mong muốn, khao khát thì sẽ làm được.

Còn sự khao khát dành cho âm nhạc thì ở mức độ nào?

– Tôi từng rất do dự giữa âm nhạc và khoa học. Đã có lúc định từ bỏ khoa học, nhưng khi đọc sách lại bị cuốn theo nên… không bỏ được.

Cho đến lúc tôi phải chấp nhận là cả hai đều quan trọng.

Dịp tết vừa qua, tôi “đóng cửa luyện công” một tháng trời, để tự trả lời chân thật nhất những câu hỏi mình muốn gì? mình là ai?

Và câu trả lời vẫn là tôi vẫn muốn mình trở thành một kỹ sư, đồng thời là một ca sĩ, nhạc sĩ. Nhưng về lâu dài, tôi thấy mình phù hợp với âm nhạc hơn, với mong muốn lớn nhất là được tiếp tục đi du học về âm nhạc.

Với khả năng sáng tác những ca từ như “Ngày dài mưa phùn/ Nắng gió tiêu điều/ Quanh đây đâu đâu mây lặng bay/ Ngoài trời khung cửa/ Trắng xoá lối đi …”, hay “Khi, cơn mưa cuốn hết nỗi đau ấy/ Khi, cầu vồng lên sau cơn bão giông/ Anh sẽ đi qua yêu thương/ Không còn vấn vương…”, Cát Tường có phải là học sinh giỏi văn?

– Nói ra thì ngượng, nhưng hồi ở phổ thông, giờ văn tôi toàn ngủ. Tôi học ban A, toán lý hóa, nhưng thi văn lúc nào cũng đạt điểm cao.

Lý do lúc thì… trúng tủ, còn với dạng văn nghị luận tôi chỉ… “chém gió”. Khả năng này tôi thừa hưởng từ ba, vốn là giảng viên luật. Từ ngữ tôi thừa hưởng từ ba, còn lối suy nghĩ là từ mẹ.

Nhân nhắc tới ba, thì dường như câu chuyện về ba của Cát Tường là một câu chuyện buồn. Chị có thể mở lòng hơn về việc này?

– Tôi mới gặp lại ba sau 3 năm.

Trước đây, tôi nuôi hy vọng gặp lại ba khi đã thành công, với những nuối tiếc, oán hận trong lòng. Nhưng khi lớn hơn rồi, đã hiểu chuyện, thì cuộc gặp vừa qua chỉ còn niềm vui.

Ba, và tôi cũng giống ba, là người kỹ tính. Khi đã quyết định, thì có nghĩa đó là quyết định cuối cùng.

Người lớn có lý do của họ, mình chỉ có thể nói rằng thì ra phải như vậy, không thể khác được. Mà khác đi chưa chắc mình đã được như hôm nay.

Có bài học nào Tường rút ra được từ câu chuyện của gia đình mình?

– Đó là sự khiêm tốn từ ba, nghị lực từ mẹ và sự vị tha – tôi rút ra cho bản thân.

Xin cảm ơn và chúc Cát Tường đạt được những dự định của mình.

Chi Mai thực hiện

 

 

 

Inernational university signs deal with US firm 

 

Inernational university signs deal with US firm 

HCM CITY(VNS)— US company National Instruments yesterday signed an agreement with the HCM City-based International University s biomedical engineering department to provide hardware and software and training for its faculty.

Professor Vo Van Toi, the department s chair, said the tie-up would help the department acquire the world s most advanced educational laboratory tools.

This would enable teachers, students, and researchers to accelerate learning and innovation in all aspects of biomedical engineering from research and development and design to application of medical devices.

This could contribute to improving healthcare diagnosis and treatment in Viet Nam, he added.

The university was the first in Viet Nam to offer an accredited degree in bio-medical engineering.-VNS

 

 

 

Sáng chế vì sức khỏe con người

“Bác sĩ” di động

Giáo sư – tiến sĩ Võ Văn Tới – Trưởng khoa kỹ thuật y sinh, cùng các cộng sự đã thiết kế thành công máy viễn áp dùng đo huyết áp và nhịp tim từ xa. Sản phẩm này đã đoạt cúp vàng tại Chợ công nghệ và thiết bị quốc tế Việt Nam 2012 do Bộ Khoa học – Công nghệ tổ chức tại Hà Nội tháng 9.2012.

news04.JPG

Đo huyết áp bằng máy viễn áp đã được sử dụng trong thực tế – Ảnh: H.A

Với thiết kế đơn giản và nhỏ gọn, máy viễn áp rất dễ sử dụng với người bệnh. Đặc biệt, máy này có thể kết nối trực tiếp với bệnh viện hoặc bác sĩ riêng để chăm sóc sức khỏe từ xa. Bác sĩ có thể theo dõi diễn tiến trực tiếp từ xa để tư vấn cho bệnh nhân. Máy sẽ tự động làm các thao tác để đo huyết áp và nhịp tim của bệnh nhân. Trong trường hợp dữ liệu bệnh nhân vừa đo vượt mức cho phép, hệ thống sẽ cảnh báo các bác sĩ để họ tức thời cứu xét. Một máy viễn áp có thể sử dụng cho nhiều bệnh nhân.

Chúng tôi mong muốn tạo ra một thiết bị y tế chăm sóc sức khỏe con người, giảm tải cho bệnh viện và góp phần vào mục tiêu hạn chế nhập khẩu thiết bị y tế mà chính phủ đề ra

Giáo sư – tiến sĩ Võ Văn Tới

Giáo sư Tới cho biết: “Điểm ưu việt của thiết bị y tế này chính là kết nối bệnh nhân với bác sĩ từ xa. Bệnh nhân có thể tự kiểm soát tình trạng sức khỏe của mình, đặc biệt được chăm sóc trực tiếp và tức thời như luôn có bác sĩ bên cạnh”.

Nói về căn nguyên của đề tài nghiên cứu, Giáo sư Tới chia sẻ: “Theo thống kê của Bộ Y tế, Việt Nam có hơn 12 triệu người có những bệnh liên quan đến tim mạch cần được giám sát. Cứ 4 người Việt Nam trưởng thành thì có một người bị cao huyết áp, và trên 50% trong số này không biết mình bị bệnh. Thêm vào đó, bệnh viện quá tải, luôn thiếu các chuyên gia y khoa và kỹ thuật. Chúng tôi mong muốn tạo ra một thiết bị y tế chăm sóc sức khỏe con người, giảm tải cho bệnh viện và góp phần vào mục tiêu hạn chế nhập khẩu thiết bị y tế mà chính phủ đề ra”.

Đây là đề tài nghiên cứu thuộc chương trình trọng điểm của ĐH Quốc gia TP.HCM, đã được thử nghiệm lâm sàng tại một số bệnh viện và sẽ phối hợp với Công ty Digisensor (Khu công nghệ cao TP.HCM) tái thiết kế và sản xuất.

Xe lăn thông minh và thuốc trị tiểu đường từ cỏ

Đề tài xe lăn điện thông minh của khoa kỹ thuật y sinh do tiến sĩ Nguyễn Thanh Hải làm chủ nhiệm, cũng là một chế tạo được nhận cúp vàng tại Chợ công nghệ và thiết bị quốc tế Việt Nam 2012. Khác với loại xe lăn thông thường, phương tiện này được thiết kế dành riêng cho người tàn tật không thể sử dụng chân và tay để di chuyển bằng xe lăn không động cơ. Loại xe này được trang bị một camera nổi để nhận diện các vật cản, cùng một hệ thống máy vi tính để xử lý hình ảnh nhận được và điều khiển xe lăn tự động tránh các vật cản. Bên cạnh đó, xe còn được trang bị thêm nón dựa trên cảm biến gia tốc. Khi người sử dụng đội nón này, các cử động của họ (nghiêng phải, trái, quay trước, sau) đều được dùng để điều khiển xe lăn theo hướng tương ứng.

Thuốc điều trị tiểu đường từ cỏ sữa (một loại cỏ phân bố ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới ẩm; ra hoa quanh năm) là kết quả nghiên cứu bước đầu về lĩnh vực công nghệ sinh học dược do tiến sĩ Hoàng Lê Sơn cùng các cộng sự thực hiện.

Đề tài nghiên cứu này đã được thử nghiệm thành công trên mô hình chuột tiểu đường. Theo đó, kết quả cho thấy chiết xuất cỏ sữa lá nhỏ có thể làm giảm đường huyết từ 43,8 – 48% ở mô hình chuột tiểu đường. Tiến sĩ Sơn cho biết chiết xuất này có tiềm năng rất lớn trong việc điều trị tiểu đường ở người và thời gian tới sẽ tiến hành các thử nghiệm lâm sàng.

 

 

 

Đại học Quốc tế TP.HCM: Công bố kết quả hai đề tài khoa học ứng dụng

Đại học Quốc tế TP.HCM: Công bố kết quả hai đề tài khoa học ứng dụng

SGTT.VN – Ngày 28.2, trường đại học Quốc tế – đại học Quốc gia TP.HCM đã tổ chức hội thảo công bố kết quả nghiên cứu khoa học trên hai lĩnh vực công nghệ sinh học dược và kỹ thuật y sinh.

TS Hoàng Lê Sơn trình bày nội dung nghiên cứu thuốc chữa bệnh tiểu đường từ cây cỏ sữa. Ảnh:N.Th

Ở lĩnh vực công nghệ sinh học dược, nhóm nghiên cứu của TS Hoàng Lê Sơn và TS Lê Thị Lý (khoa công nghệ sinh học) đã trình bày “Kết quả ban đầu nghiên cứu thuốc trị bệnh tiểu đường từ cây cỏ sữa”, bước đầu đánh giá hoạt tính hạ đường huyết của cây cỏ sữa lá nhỏ trong việc điều trị một căn bệnh đang có xu hướng gia tăng. Theo kết quả nghiên cứu, chiếc xuất của cỏ sữa lá nhỏ có thể làm giảm đường huyết tới 48% ở chuột tiểu đường gây ra bằng STZ/NAD (Streptozotocin và Nicotinamide), và 43,8% ở chuột tiểu đường gây ra bởi Monosodium glutamate (bột ngọt). Nghiên cứu chỉ ra tiềm năng lớn trong việc điều trị bệnh tiểu đường ở nước ta, trong việc kết hợp giữa đông và tây y. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu ứng dụng những phương pháp hiện đại nhằm rút ngắn thời gian chế tạo thuốc và giá thành sản xuất so với mẫu chứng và thuốc điều trị tiểu đường hiện hành.

GS.TS Võ Văn Tới, trưởng bộ môn kỹ thuật y sinh, thay mặt nhóm nghiên cứu trình bày đề tài “Thiết kế máy đo huyết áp và nhịp tim viễn thông (máy viễn áp)”. Thông qua phần mềm kết nối máy đo với một server chủ quản lý dữ liệu đến văn phòng bác sĩ, bệnh viện, hệ thống máy này giúp các bác sĩ thường xuyên theo dõi tình trạng bệnh nhân của mình từ xa để có những phản hồi kịp thời đến người bệnh trong quá trình theo dõi điều trị.

Theo PGS.TS Hồ Thanh Phong, hiệu trưởng trường đại học Quốc tế – Đại học Quốc gia TP.HCM, kể từ khi thành lập nhà trường đã đầu tư 141 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp với tổng kinh phí 20 tỉ đồng. Đặc biệt, quỹ Khoa học và công nghệ quốc gia Nafosted đã tài trợ cho trường 19 đề tài nghiên cứu cơ bản trong khoa học tự nhiên trong hai năm (2011 – 2012) với tổng kinh phí khoảng 14 tỉ đồng, chiếm tỷ lệ cao so với các đơn vị khác ở phía Nam. Riêng hai khoa công nghệ sinh học và kỹ thuật y sinh là hai lĩnh vực khá mạnh của nhà trường, tập trung nhiều nhà khoa học có tâm huyết, nhiều nghiên cứu đã mở ra hướng hợp tác với nhà sản xuất để phát triển sản phẩm phục vụ xã hội như dược, thiết bị y tế và bảo tồn giống…

Các nhà khoa học biểu diễn ứng dụng thực tế máy viễn áp tại hội thảo. Ảnh: N.Th

Như Thuần